Dân văn phòng cần chú ý bệnh xương khớp

Theo thống kê ở Mỹ, khoảng 10 người thì có 9 người làm văn phòng bị bệnh về cột sống, trong đó đau cột sống thắt lưng là phổ biến nhất.

Mỗi nhân viên văn phòng sẽ trải qua trung bình 8 – 12 tiếng một ngày, ngồi yên trên ghế hàng tiếng đồng hồ, đối diện với hàng đống giấy tờ, số liệu, stress,… khiến cho các bệnh về cột sống: gai cột sống, thoát vị đĩa đệmghé thăm người bệnh thường xuyên không khác gì so với người già. Chúng ta cùng nhau điểm qua một số các căn bệnh đang có nguy cơ cao đối với dân văn phòng, hay gọi đúng hơn là “hội chứng bệnh văn phòng”.

1. Bệnh đau cột sống và khớp ở dân văn phòng

Bệnh đau cột sống là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi. Có đến 80% số người mắc bệnh đau cột sống là nhân viên văn phòng, lái xe, thợ may… những người thường xuyên phải ngồi một chỗ hoặc ít vận động. Đau nhói ở cột sống có thể phòng ngừa được nếu bạn có chế độ ăn uống, học tập và làm việc hợp lý.

Triệu chứng chính của bệnh thoái hoá cột sống là đau nhói và/hoặc đau mãn tính, suy nhược, hạn chế vận động và mất cảm giác. Nếu benh thoai hoa cot song dẫn tới đè, nén hoặc chấn thương tuỷ sống thì tình trạng suy nhược và hạn chế vận động sẽ nghiêm trọng hơn đáng kể. Chức năng của bàng quang, đường ruột và tình dục cũng bị giảm đi đáng kể. Các triệu chứng cụ thể phụ thuộc vào vị trí cột sống bị tổn thương.

Theo nghiên cứu của Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường, nhóm lao động phải ngồi liên tục có tỉ lệ đau mỏi lưng cao hơn hẳn so với các nhóm làm việc khác: 15-20% số lao động bị đau so với 5-7% tại các nhóm khác. Nguyên nhân có thể là ghế ngồi không phù hợp, ngồi sai tư thế, thao tác công việc đơn điệu nhưng tần số thao tác cao, thời gian nghỉ ngơi quá ít.

90% dân văn phòng mắc bệnh gai cột sống là một con số đáng báo động, nó không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của bản thân người bị bệnh mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nền kinh tế vì nhân viên văn phòng là đầu não của bất cứ công ty, doanh nghiệp nào.

2. Đau ống cổ tay

Ống cổ tay là một lối đi hẹp ở phía trong lòng bàn tay, được tạo ra bởi xương và dây chằng. Các dây thần kinh giữa kiểm soát những cảm giác và chuyển động bên trong của các ngón tay cái và 3 ngón tay đầu tiên, nó chạy qua ống xương với các dây chằng để đến các ngón tay.

Khi nó bị chèn ép hoặc làm việc trong một thời gian dài kết quả là sẽ bị tê, ngứa ran hay đau ở tay tất cả được gọi là hội chứng cổ tay hay viêm khớp cổ tay (viêm khớp ống cổ tay).
Các dấu hiệu điển hình của hội chứng ống cổ tay là đau, tê nhức, châm chích ở các ngón tay, đặc biệt với các ngón cái, ngón hai, ba và phân nửa ngoài ngón áp út. Đặc biệt, không đau ở một nửa ngón áp út và ngón út, có thể đau lan đến cổ tay, lòng bàn tay và cẳng tay, nhất là về đêm, người bệnh trở nên vụng về nhất là các động tác cầm nắm.

Đôi khi các vấn đề xảy ra ở gân như sung hoặc kích ứng có thể làm hẹp đường hầm và dây thần kinh giữa bị hẹp lại. Các triệu chứng có thể trở nên tồi tệ hơn vào ban đêm hoặc khi vận động. Hội chứng ống cổ tay nếu không được điều trị có thể dẫn đến mất cảm giác và yếu cơ vĩnh viễn.

3. Dễ căng thẳng thần kinh

Tại các phòng khám về thần kinh, tỉ lệ người trẻ đến khám vì suy giảm trí nhớ hiện đang chiếm một con số không nhỏ, trong đó đa số là dân giới văn phòng. Thống kê cho thấy, có đến 20-30% người trẻ tuổi đang gặp phải các vấn đề về trí nhớ ở các mức độ khác nhau, chưa kể những trường hợp chủ quan và bỏ qua các dấu hiệu.

Bệnh đau đầu cũng thường gặp với các triệu chứng như: Đau đầu giật giật, cảm giác có gì đó gõ vào đầu, kèm theo hoa mắt do làm việc bằng mắt quá tập trung (ngồi vi tính) thời gian lâu, ít được ngủ, áp lực công việc nặng nề, do thế ngồi làm việc không đúng, ít thay đổi tư thế…
Xem thêm thông tin
Nguyen nhan thoat vi dia dem

Bơi lội có tốt cho bệnh nhân thoát vị đĩa đệm

Thoái hóa cột sống thắt lưng là bệnh lý xảy ra phổ biến ở những đối tượng lớn tuổi, thoát vị đĩa đệm đang có xu hướng gia tăng ở giới trẻ do lối sống và tính chất một số công việc hiện nay. Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, trong đó quá trình lão hóa tự nhiên của xương khớp là nguyen nhan thoat vi dia dem chủ yếu.

Hình ảnh

Thoái hóa cột sống lưng thường xuất hiện các cơn đau đột ngột, đau âm ỉ hoặc đau dai dẳng trong thời gian dài, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng vận động của người bệnh. Vì bệnh xảy ra ở vùng lưng nên có khá nhiều người thắc mắc không biết thoái hóa cột sống lưng có bơi được không, nếu bơi có ảnh hưởng gì không?

Trên thực tế, thoái hóa cột sống lưng có bơi được không còn tùy thuộc vào mức độ bệnh lý mà người bệnh đang mắc phải. Tuy nhiên, nếu bệnh không quá nặng thì bơi lội chính là môn thể thao rất phù hợp cho người mắc bệnh thoái hóa cột sống. Trong đó, bơi lội có thể mang lại một số lợi ích sau:

Trong quá trình bơi, cột sống lưng hầu như không chịu tác động từ trọng lượng của cơ thể, vì thế không gây tổn thương đến cột sống và các vị trí bị thoái hóa nhiều.

Chức năng của một số cơ quan như tim mạch, phổi, khí quản,… được củng cố đáng kể, trở nên khỏe mạnh và hoạt động nhịp nhàng hơn. Do đó, máu lưu thông dễ dàng đến các vị trí cột sống bị thoái hóa, giúp giảm đau hiệu quả.

Khi bơi, các nhóm cơ lưng ngày càng khỏe mạnh và vững chắc, giúp quá trình lão hóa tự nhiên của cơ thể chậm lại, giảm tần suất xuất hiện các cơn đau nhức, do đó việc điều trị diễn ra thuận lợi hơn.

Bơi còn có thể khiến cơ thể tiêu hao 1 lượng mỡ thừa nhất định, vì thế trọng lượng của cơ thể giảm rõ rệt, giúp hạn chế gánh nặng lên hệ cơ xương khớp, đặc biệt là cột sống lưng và thắt lưng.

Một số lưu ý khi bơi lội nếu mắc bệnh thoái hóa cột sống lưng

Bơi lội khi bị [url=benh thoai hoa cot song lưng có thể mang lại nhiều lợi ích cho hệ xương khớp, giúp người bệnh giảm đau và hạn chế sự phát triển của bệnh. Tuy nhiên, bệnh nhân cũng nên lưu ý một số vấn đề sau:

Thời điểm bơi tốt nhất là vào buổi sáng và chiều tối, nên tránh bơi vào buổi trưa hoặc khi vừa ăn no xong. Tuy nhiên, nên ăn nhẹ trước khi bơi để cơ thể có sức khỏe tốt và không bị hụt hơi trong lúc bơi.

Nên bơi khoảng 3 buổi/tuần để đạt hiệu quả tốt nhất (cần cách ngày để không gây đau nhức khớp).

Trước khi bơi nên khởi động kỹ để tránh tình trạng căng cơ, chuột rút.

Các kiểu bơi có thể mang lại hiệu quả tốt nhất đối với người bị thoái hóa cột sống lưng là bơi ếch, bơi sải và bơi ngửa.

Đối với người lớn tuổi nên cân nhắc kỹ trước khi bơi, chỉ nên bơi nhẹ nhàng và không cố quá sức.

Nếu bị thoái hóa cột sống lưng và đang mắc một số bệnh mãn tính khác như tim mạch, cao huyết áp, suy thận, tiểu đường,… không nên tham gia bộ môn này, vì trong quá trình bơi có thể phát sinh nhiều nguy hiểm.

Tốt nhất nên tham khảo lời khuyên của bác sĩ chuyên khoa để biết tình trạng của bản thân có nên bơi hay không.

Nên có biện pháp bơi hợp lý khi bị thoái hóa cột sống lưng.

Kết hợp bơi lội với vật lý trị liệu để chữa bệnh hiệu quả

Ngoài việc tham gia bơi lội để giúp hạn chế quá trình thoái hóa cột sống lưng, người bệnh cũng nên đến trực tiếp các cơ sở y tế, phòng khám chuyên khoa để thăm khám và điều trị càng sớm càng tốt. Hiện nay, Phòng khám cơ xương khớp PCC chính là địa chỉ điều trị thoái hóa cột sống cho tỷ lệ thành công hơn 95% bằng phương pháp Chiropractic với ưu điểm:

Sử dụng tay để thực hiện xoa bóp nắn chỉnh, kết hợp thêm một số biện pháp vật lý trị liệu cùng các phương pháp y học cổ truyền như châm cứu, xoa bóp – bấm huyệt, chườm nóng,… nhằm tăng hiệu quả ca chữa trị.

Thực hiện trị liệu bảo tồn không phẫu thuật xâm lấn, không dùng thuốc, vì thế mức độ đau nhức giảm rõ rệt từ 10 xuống chỉ còn 1 – 3, tăng cường sức khỏe xương khớp và hạn chế tái phát hiệu quả.

Bơi lội nên kết hợp với vật lý trị liệu để mang hiệu quả tốt nhất.

Ứng dụng nhiều loại máy móc, trang thiết bị hiện đại vào quá trình điều trị bệnh. Với bệnh thoái hóa cột sống lưng, bác sĩ có thể áp dụng chữa trị bằng một số biện pháp như chiếu ánh sáng hồng ngoại IR, điện xung, sóng xung kích, chiếu tia Laser cường độ cao, nắn chỉnh bằng máy DTS hoặc bằng tay,…

Trực tiếp thăm khám, chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân là đội ngũ bác sĩ giỏi, có tay nghề cao, giàu kinh nghiệm, có đầy đủ các chứng chỉ hành nghề theo quy định của Bộ Y tế. Các kỹ thuật viên chỉ tham gia hỗ trợ bác sĩ và giúp đỡ bệnh nhân trong quá trình chữa bệnh.

Tham khảo thêm: http://acc.vn/benh-dieu-tri/thoat-vi-dia-dem/

Những nguy cơ từ thoát vị đĩa đệm

Bệnh thoát vị đĩa đệm thường xảy ra sau những sang chấn hoặc trên nền đĩa đệm bị thoái hóa, nứt, rách…

Khi bệnh không được xử trí và điều trị đúng phương pháp sẽ để lại những ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của bệnh nhân.

Dấu hiệu của bệnh

Hình ảnh

Thoát vị đĩa đệm đặc trưng bởi các cơn đau thắt lưng với những dấu hiệu nhức, tê lan xuất phát thắt lưng xuống mông và chân, hay đau từ vùng cổ, gáy lan ra hai vai và xuống các cánh tay, bàn tay… khiến bệnh nhân rất khó chịu, đau đớn. Ngoài ra, đau cột sống và đau rễ thần kinh là những triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Đau thường xuất phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi bệnh. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra, còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị. Tuỳ theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng đặc trưng.

Khi bị thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ, người bệnh có biểu hiện đau vùng gáy, vai. Ðau, tê, mất cảm giác từng vùng ở cả tay, cổ tay, bàn tay. Giảm cơ lực tay. Các hiện tượng đau, nhức, tê tăng lên hay giảm xuống theo cử động cổ tay…

Khi bị thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng thì gây đau vùng thắt lưng và triệu chứng đau thần kinh liên sườn: Cảm giác đau tăng khi nằm nghiêng, ho và đại tiện. Bệnh nhân sẽ thấy đau vùng cột sống lưng, lan theo hình vòng cung ra phía trước ngực, dọc theo khoang liên sườn. Ðau, tê, mất cảm giác từng vùng ở mông, chân, bàn chân, trường hợp nặng có thể bị liệt. Ngoài ra, bệnh nhân còn bị chế cử động cột sống: Không còn khả năng ưỡn của thắt lưng, không cúi được xuống thấp… Bệnh nhân sẽ thấy đau thắt lưng cấp hay mạn tính, đau thần kinh tọa, đau thần kinh đùi bì. Người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo về một bên để chống đau, cơ cạnh cột sống co cứng. Có trường hợp đau rất dữ dội và người bệnh phải nằm bất động về bên đỡ đau.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm

Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm (nhân tủy). Nhờ tính đàn hồi, đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương. Nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức…), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống. Khi đĩa đệm nào đó bị rách hoặc đứt, những chất dạng gel bên trong nó sẽ tràn ra ngoài. Hiện tượng này được gọi là thoát vị nhân tủy – hay thoát vị đĩa đệm.

Có nhiều nguyen nhan thoat vi dia dem cột sống. Một số nguyên nhân chủ yếu gồm:

Sai tư thế: Cơn đau thường xuất hiện khi ta nhấc vật nặng ở tư thế không phù hợp. Tư thế lao động, tư thế ngồi, mang vác nặng sai cách đặc biệt hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng. Chẳng hạn như thay vì ngồi xuống bê vật nặng rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng, thoát vị đĩa đệm. Không chỉ bê vác nặng, mà nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp…

Thoái hoá tự nhiên: Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, benh thoai hoa cot song cũng là các yếu tố thuận lợi để gây bệnh. Những người ở độ tuổi từ 30 đến 50 là có nguy cơ bị thoát vị cao nhất do những thành phần nước và đàn hồi bên trong nhân tủy sẽ giảm đi theo tuổi. Những người trên 30 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách. Trên cơ sở đó nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức…), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống.

Hệ lụy của thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể để lại nhiều hậu quả, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh. Trong đó, khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt. Bệnh nhân rất khó thực hiện các động tác cột sống như cúi ngửa, nghiêng xoay. Khi rễ thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi.

Nếu tổn thương thần kinh cánh tay bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu tổn thương thần kinh tọa thì bệnh nhân có thể không nhấc được gót hay mũi chân, dần dần xuất hiện teo cơ chân bên tổn thương. Khi bệnh nặng người bệnh thấy chân tê bì, mất cảm giác ở chân đau hay đại, tiểu tiện không kiểm soát được.

Bệnh nhân có thể bị tàn phế suốt đời do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cùng, bệnh nhân có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn.

Bệnh nhân bị teo cơ các chi nhanh chóng, khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động. Tất cả các biến chứng đó ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, chưa kể những tốn kém do chi phí điều trị.

Ngoài ra, thoát vị đĩa đệm còn có thể gây là một số bệnh khác như:

Đau rễ thần kinh: Phản ánh một quá trình tổn thương kích thích rễ thần kinh do chèn ép cơ học, xuất hiện sau giai đoạn đau thắt lưng cục bộ, đau tăng lên khi đi lại, đứng lâu, ngồi lâu; đau dội mạnh lên khi ho, hắt hơi, rặn đại tiện. Nằm nghỉ tại giường lại giảm đau nhanh chóng. Đó là kiểu đau mang tính chất cơ học, thường gặp trong cơ chế xung đột giữa đĩa đệm với rễ thần kinh do thoát vị đĩa đệm. Rối loạn cảm giác thường gặp là giảm cảm giác nông (nóng, lạnh, xúc giác) ở những khu vực khoang da tương ứng với rễ thần kinh bị tổn thương. Đây là biểu hiện mức độ tổn thương sâu sắc của rễ thần kinh.

Hội chứng đau khập khễnh cách hồi: Là một dạng đau rễ thần kinh ngắt quãng, nó xuất hiện khi đi được một đoạn làm bệnh nhân phải dừng lại để nghỉ. Khi đi tiếp một đoạn nữa, đau lại xuất hiện, buộc bệnh nhân phải nằm nghỉ.

Rối loạn vận động: Bại và liệt cơ ở hai chân do rễ thần kinh chi phối bao gồm rối loạn cơ thắt: Trong tổn thương các rễ vùng xương cùng có biểu hiện lúc đầu bí tiểu sau Đới dầm dề, luôn luôn có nước tiểu chảy rỉ ra một cách thụ động do liệt cơ thắt kiểu ngoại vi không giữ được nước tiểu.

Hội chứng đuôi ngựa: Với biểu hiện gồm đau một cách dữ dội, người bệnh không thể chịu nổi, đòi hỏi cấp cứu về thần kinh. Đau lại kèm theo liệt cơ, mất cảm giác, rối loạn cảm giác… Trường hợp chứng đuôi ngựa dưới có thể rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi, rối loạn cảm giác vùng đáy chậu, không có liệt hoặc chỉ liệt một số động tác của bàn chân. Đối với trường hợp hội chứng đuôi ngựa giữa thì có triệu chứng liệt gấp cẳng chân, liệt các động tác của bàn chân và ngón chân, mất cảm giác toàn bộ ngón chân; mất cảm giác toàn bộ cẳng chân, bàn chân, mặt sau đùi và mông; rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi.
Điều trị bệnh thế nào?
Để điều trị thoát vị đĩa đệm cần lưu ý đến chế độ vận động. Trong thời kỳ cấp tính, nằm nghỉ tại giường là nguyên tắc quan trọng đầu tiên. Tư thế nằm ngửa trên ván cứng, có đệm ở vùng khoeo làm co nhẹ khớp gối và khớp háng. Thực hiện điều trị vật lý và các liệu pháp phản xạ bao gồm phương pháp nhiệt như chườm nóng (túi nước, muối rang, cám rang, lá lốt, lá ngải cứu nóng); dùng các dòng điện tại khoa vật lý trị liệu, điều trị bằng laser; châm cứu. Ngoài ra, bệnh nhân có thể dùng các loại thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ, an thần, trấn tĩnh thần kinh và vitamin nhóm B liều cao (B1, B6, B12).
Một biện pháp điều trị quan trọng là thông qua sự can thiệp của phẫu thuật. Trong đó phẫu thuật tự động qua da là phương pháp chữa thoát vị đĩa đệm mới, hiệu quả, an toàn và không để lại biến chứng.
Có thể bạn chưa biết?
Chữa bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng bằng vật lý trị liệu